Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2014

(ĐTCK) Quyết định 51/2014/QĐ-TTg dành hẳn một mục lớn để quy định về thoái vốn nhà nước đầu tư tại các công ty tài chính, ngân hàng thương mại.


Trong đó, người mua ưu tiên sẽ là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các nhà băng được chỉ định chứ không như thị trường vẫn nghĩ rằng SCIC có nhiệm vụ “ôm” lượng cổ phiếu này.

Việc thoái vốn ngân hàng được chia thành nhiều trường hợp. Trước hết, những ngân hàng có cổ đông là DNNN sở hữu từ 5% vốn điều lệ trở lên được NHNN xem xét tiếp nhận đại diện chủ sở hữu hoặc chỉ định một hoặc một số ngân hàng thương mại nhà nước (bao gồm ngân hàng thương mại nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn điều lệ) mua lại theo phương án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đối với từng trường hợp.

Các trường hợp khác, DNNN thực hiện thoái vốn thông qua đấu giá và bán thỏa thuận và phải được NHNN chấp thuận bằng văn bản nhà đầu tư mới.

Trường hợp bán không thành công thì đề nghị NHNN tiếp nhận đại diện chủ sở hữu hoặc chỉ định ngân hàng thương mại nhà nước mua lại trước khi đề nghị SCIC mua.

Trường hợp khoản đầu tư chiếm dưới 5% vốn điều lệ của ngân hàng thương mại, DNNN thoái vốn trên thị trường theo quy định (đấu giá, thỏa thuận, khớp lệnh…). Trường hợp không bán được hoặc không bán hết thì doanh nghiệp báo cáo chủ sở hữu vốn nhà nước đề nghị SCIC xem xét thỏa thuận mua số cổ phần còn lại.

Theo thống kê, hiện số vốn đầu tư của DNNN vào các ngân hàng, công ty tài chính khoảng trên 10.000 tỷ đồng. Trong đó, có thể kể đến một số khoản đầu tư lớn của các tập đoàn, TCT như Tập đoàn Dầu khí sở hữu 20% cổ phần Ocean Bank và 52% cổ phần PVcomBank, Tập đoàn Điện lực sở hữu 16% vốn điều lệ ABBank, VNPT nắm 9% vốn điều lệ Maritime Bank, Petrolimex nắm 40% cổ phần PG Bank.

Một số doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối cũng tham gia đầu tư vào ngân hàng như Vietnam Airlines tại Techcombank, MobiFone, PVGas tại SeABank, Tập đoàn Bảo Việt tại Ngân hàng Bảo Việt, Vinare tại TPBank … Riêng khối công ty tài chính, hiện có gần 10 đơn vị có vốn góp của các tập đoàn, TCT như Sông Đà, Xi măng, Handico, Viettel - Vinaconex…

Đánh giá của NHNN cho thấy, tất cả những ngân hàng có vốn đầu tư ngoài ngành của DNNN kể trên đều đang hoạt động khá ổn định và không thuộc nhóm phải tái cơ cấu trong đợt 1. Bởi vậy, với tư cách là cơ quan quản lý ngành, ít có khả năng NHNN trực tiếp đứng ra nhận quyền sở hữu cổ phần tại các ngân hàng thương mại kể trên, vì theo thông lệ quốc tế, Ngân hàng Trung ương chỉ đứng ra tiếp nhận, tham gia mua lại cổ phần và trở thành cổ đông để xử lý ngân hàng yếu kém, phải cơ cấu để tránh ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế.

Như vậy, chỉ có 3 con đường với số vốn trên 10.000 tỷ đồng nói trên. Trong đó, ưu tiên số 1 là NHNN chỉ định ngân hàng quốc doanh đứng ra mua lại để thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu. Hiện các ngân hàng có quyền mua có thể kể đến như Agribank, BIDV, Vietinbank, Vietcombank.

Trước đây, NHNN cũng đã chỉ định Vietcombank tham gia mua lại một lượng lớn cổ phần và trực tiếp thực hiện quá trình tái cơ cấu hoạt động của Eximbank cùng một số ngân hàng yếu kém khác. Song nhìn nhận một cách thẳng thắn hiện nay, trong số các ngân hàng vừa kể tên, không phải ngân hàng nào cũng có năng lực thực sự về tài chính, chưa nói đến khả năng hỗ trợ các nhà băng khác.

Hồi giữa năm nay, thị trường từng ồn ào chuyện Vietinbank tham gia đầu tư vào PGBank và Công ty Tài chính Viettel-Vinaconex. Bởi vậy, rất có thể, ngân hàng này sẽ là một trong những đầu mối được chỉ định tham gia mua lại một số khoản đầu tư ngoài ngành.

Con đường thứ hai là các tập đoàn, TCT chủ động tìm nhà đầu tư để bán lại/bán bớt số cổ phần trên. Với tỷ lệ cổ phần ở một số ngân hàng như OceanBank, PVcomBank, ABBank, PGBank… rất lớn, những nhà đầu tư mới chính là các nhà đầu tư chiến lược của ngân hàng.

Ở thời điểm hiện nay, việc tìm kiếm và thỏa thuận thành công với các nhà đầu tư như vậy, cả trong và ngoài nước không hề dễ dàng.

OceanBank từng kỳ vọng sẽ đàm phán để Tập đoàn Hemes (Anh) bỏ vốn vào Ngân hàng, nhưng suốt 3-4 năm qua chưa thực hiện được.

Còn nhà đầu tư trong nước, năm 2013, 2 đợt bán đấu giá cổ phần của Vietnam Airlines tại Techcombank; của EVN tại ABBank đã thất bại hoàn toàn vì không có nhà đầu tư tham gia.

Diễn biến thị trường và nền kinh tế hiện nay đã tích cực hơn so với trước đây, nhưng khả năng mua lô lớn qua đấu giá và thỏa thuận trong lĩnh vực ngân hàng vẫn mờ mịt.

Con đường thứ ba là bán cho SCIC. Theo ông Lại Văn Đạo, Tổng giám đốc SCIC, sau khi Chính phủ có chủ trương SCIC tham gia vào việc thoái vốn đầu tư tại các ngân hàng, SCIC đã rà soát lại sức khỏe của các ngân hàng thuộc diện thoái vốn. Song mức độ mới chỉ ở việc tiếp cận qua các thông tin được công bố. Như một nhà đầu tư tính đến cả hiệu quả, SCIC cho biết họ chỉ tham gia vào những ngân hàng có tiềm năng và quan trọng là lành mạnh.

“SCIC coi đây là một khoản đầu tư, có thể chỉ nắm giữ trong ngắn hạn, khi điều kiện thị trường phù hợp, chúng tôi có thể thoái vốn”, ông Đạo nói. Sẵn tiền, mong muốn tìm kiếm được những cơ hội tốt, nhưng việc tham gia vào tiến trình này của SCIC lại phụ thuộc vào 2 yếu tố: ý chí của NHNN và bản thân các tập đoàn, TCT liệu đã sẵn sàng buông “con” thời điểm này hay còn níu kéo thêm thời gian nữa?

Anh Việt

Thứ Tư, 17 tháng 9, 2014

(HNMO) - Bộ GTVT vừa có quyết định số: 3457/QĐ-BGTVT về việc thu phí tại Trạm thu phí phụ T2 Km28+480 trên Quốc lộ 51 để hoàn vốn cho dự án đầu tư xây dựng mở rộng Quốc lộ 51 đoạn Km0+900 – Km73+600.






Theo đó, Bộ GTVT quyết định cho phép Công ty CP phát triển đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu (Nhà đầu tư, gọi tắt là BVEC) được tổ chức thu phí tại Trạm thu phí phụ T2 – Km28+480 trên Quốc lộ 51 kể từ 0 giờ ngày 21-9-2014 để thu phí hoàn vốn đầu tư dự án đầu tư xây dựng mở rộng Quốc lộ 51 đoạn Km0+900 – Km73+600 theo hình thức BOT (Xây dựng-Kinh doanh-Chuyển giao).

Cũng theo quyết định này của Bộ GTVT, trạm thu phí phụ T2 và các trạm thu phí T1, T3 trên tuyến Quốc lộ 51 (tỉnh Đồng Nai) được giao cho BVEC triển khai thu phí trong thời gian thực hiện hợp đồng BOT. Khi kết thúc thời hạn thu phí theo hợp đồng hoặc khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định trưng mua hoặc yêu cầu dịch chuyển trạm thu phí, chấm dứt quyền thu phí thì các trạm thu phí sẽ được chuyển giao cho Tổng Cục đường bộ Việt Nam hoặc đơn vị được Bộ GTVT chỉ định để tiếp tục quản lý, xử lý theo quy định hiện hành. BVEC có trách nhiệm nghiêm túc thực hiện.

Mức thu chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ tại Trạm thu phí phụ T2 và các Trạm thu phí T1, T3 trên tuyến Quốc lộ 51 thực hiện theo quy định tại Thông tư số 87/2014/TT-BTC ngày 4-7-2014 của Bộ Tài chính.

Cũng theo thông tin từ BVEC, trường hợp phương tiện đi qua 1 trạm (T1; T2 hoặc T3), thì chủ phương tiện phải nộp phí tại trạm đó. Trường hợp phương tiện qua 2 Trạm kế tiếp nhau (T1 và T2 hoặc T2 và T3) thì chủ phương tiện phải nộp phí tại trạm đến đầu tiên và không phải nộp phí khi qua Trạm thứ 2. Trường hợp phương tiện qua cả 3 Trạm, thì chủ phương tiện phải nộp phí tại Trạm T1 và Trạm T3.

Đối với Trạm T1 và T3, chủ phương tiện mua vé tháng, vé quý riêng và sử dụng tại từng Trạm. Trường hợp, chủ phương tiện có vé tháng, vé quý của Trạm T1 hoặc Trạm T3, khi qua Trạm T2 sẽ không phải nộp phí. Trường hợp phương tiện chỉ qua Trạm T2 (không qua Trạm T1 và Trạm T3) thì chủ phương tiện mua vé tháng, vé quý của Trạm T1 hoặc Trạm T3 để sử dụng khi qua Trạm T2.

Đối với xe sử dụng dịch vụ thu phí không dừng qua các Trạm (chủ phương tiện phải có tài khoản trả trước của ngân hàng, có thiết bị thu phát tín hiệu) thì mức thu phí, cách tính phí qua các trạm tương tự cách tính phí tại khoản 1 và khoản 2 nêu trên, xe không cần dừng lại tại Làn thu phí không dừng của các trạm, việc phải trả phí được thực hiện tự động thông qua tài khoản thanh toán ngân hàng mà chủ phương tiện đã đăng ký với đơn vị thu phí.

Được biết, BVEC là chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng mở rộng Quốc lộ 51 đoạn từ Km0+900 - Km73+600 được ký kết giữa Tổng cục đường bộ Việt Nam và BVEC. Việc thu phí tại Trạm thu phí phụ T2 nhằm mục đích chống thất thu cho dự án đầu tư xây dựng mở rộng Quốc lộ 51 do đường cao tốc TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây đưa vào khai thác đã làm giảm phương tiện xe lưu thông qua Trạm thu phí T1.

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

(HQ Online)- Theo Tổng cục Hải quan, những DN được công nhận là DN ưu tiên trong lĩnh vực hải quan đều là những DN lớn, có sự tuân thủ pháp luật tốt, có quy trình kiểm soát nội bộ hiện đại, nhất là quản lí quy trình sản xuất và quản lí sản phẩm… Vậy 8 DN vừa được công nhận DN ưu tiên, có quy mô hoạt động như thế nào?


Phó Tổng cục trưởng Hoàng Việt Cường trao Quyết định DN ưu tiên cho đại diện Tập đoàn Hoa Sen. Ảnh: T.Bình.

Công ty TNHH Hoya Glass Disk Việt Nam (Hà Nội) là thành viên của Tập đoàn Hoya (Nhật Bản), có kim ngạch XNK trung bình hàng năm 400 triệu USD.

Hoya Glass Disk Việt Nam chuyên sản xuất “nền thủy tinh” cho đĩa từ (để sản xuất ổ cứng máy vi tính). Hiện nay, Tập đoàn Hoya đang đứng vị trí thứ hai thế giới về sản xuất nền thủy tinh cho đĩa từ.

Công ty TNHH Yazaki Hải Phòng Việt Nam (Hải Phòng) cũng là DN 100% vốn FDI của Nhật Bản thuộc Tập đoàn Yazaki. Tập đoàn Yazaki có hơn 400 công ty trên toàn thế giới. Công ty TNHH Yazaki Hải Phòng Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực sản xuất các cụm chi tiết ô tô như hệ thống dây dẫn và các cụm thiết bị điện, sản phẩm chủ yếu là hệ thống dây dẫn điện ô tô.

Theo đánh giá của Tổng cục Hải quan, Công ty TNHH Yazaki Hải Phòng Việt Nam có hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ, thống nhất trong toàn Tập đoàn Yazaki.

Công ty TNHH điện tử Samsung Vina (TP.HCM) có 100% vốn đầu tư Hàn Quốc. Công ty đang sử dụng 600 lao động ở khu vực sản xuất và 500 nhân viên làm việc tại các văn phòng khắp cả nước.


Phó Tổng cục trưởng Hoàng Việt Cường tặng hoa chúc mừng đại diện Công ty TNHH điện tử Samsung Vina. Ảnh: T.Bình.

Hiện nay Công ty TNHH điện tử Samsung Vina có sản lượng khoảng 4 triệu sản phẩm/năm, các sản phẩm chính là màn hình ti vi LED, màn hình máy vi tính LED, cụm linh kiện đồng bộ sản xuất màn hình ti vi LED, màn hình máy vi tính LED.

Công ty TNHH điện tử UMC Việt Nam (Hải Dương) là DN 100% vốn đầu tư của Nhật Bản (tổng vốn đầu tư 100 triệu USD), chuyên sản xuất và lắp ráp linh kiện điện tử công nghệ cao. Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng bảng mạch điện tử của DN này đứng số một tại Nhật Bản và 13 trên toàn thế giới. Năm 2013 tổng doanh thu của Công ty TNHH điện tử UMC Việt Nam đạt 899 triệu USD.

Công ty CP thủy sản Sóc Trăng (Sóc Trăng) được thành lập năm 1978, đến nay 2006 được chuyển mô hình sang công ty cổ phần. Mặt hàng XNK chính của DN là tôm, với các thị trường truyền thống Nhật Bản, Hoa Kỳ và đang mở rộng sang khu vực châu Âu, Trung Đông…

Hiện nay Công ty CP thủy sản Sóc Trăng giải quyết việc làm cho 3.500 lao động.

Công ty CP thủy sản Minh Phú Hậu Giang (Hậu Giang) là DN thuộc Tập đoàn Minh Phú (Cà Mau) được thành lập năm 2012. Năm 2013, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 126 triệu USD, lợi nhuận đạt 201 tỉ đồng, tăng 10 lần so với năm 2012.

Công ty CP thực phẩm Sao Ta (Sóc Trăng) có mặt hàng xuất khẩu chính là tôm, hàng nông sản. Các thị trường chủ yếu là Nhật Bản, Hoa Kỳ… Công ty này đặt mục tiêu đạt doanh thu 2.200 tỉ đồng trong năm 2014.


Phó Tổng cục trưởng Hoàng Việt Cường trao Quyết định cho đại diện Công ty CP thủy sản Sóc Trăng. Ảnh: T.Bình.

Tập đoàn Hoa Sen (Bình Dương) là DN hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm tôn, thép, nhựa. Các sản phẩm của DN không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn xuất khẩu đến hơn 40 quốc gia, vùng lãnh thổ. Tập đoàn Hoa Sen chiếm 40% thị phần tôn ở thị trường trong nước.

Qua 13 năm xây dựng, phát triển, Tập đoàn Hoa Sen hiện có vốn điều lệ hơn 1.000 tỉ đồng, thu hút gần 4.000 lao động với 130 chi nhánh trong cả nước. Trong năm tài chính 2012-2013, doanh thu của Công ty đạt 11.700 tỉ đồng.

Theo Tổng cục Hải quan, 24 DN đang được công nhận DN ưu tiên có tổng giá trị kim ngạch XNK chiếm tới 23% tổng giá trị kim ngạch XNK cả nước.


Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

(ĐTCK) Để trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này, thiết nghĩ, việc lội ngược lại chỗ bắt đầu là cần thiết...


Tác giả Huy Nam là chuyên viên Kinh tế Tài chính Chứng khoán, Chuyên gia độc lập, Giảng viên PACE, Thành viên Hội đồng chỉ số Sở GDCK TP. HCM, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Thoạt tiên, sở dĩ cổ phần có mệnh giá là để bảo vệ ‘những người ngoài’ đã cung vốn cho doanh nghiệp. Những người ngoài ở đây là đại chúng và doanh nghiệp gồm những người sáng lập hay nội bộ. Quy định có mệnh giá là để tránh sự thổi phồng kích giá (hype) mà đại chúng rất dễ bị mắc bẫy lúc đi mua ‘niềm tin’ từ một thực thể lần đầu ra nắng gió.

Bởi vào lúc sơ khai này, cổ phiếu IPO chưa có thị trường, còn lệ thuộc vào sự định giá chủ quan của giới chủ nên người mua cần có sự bọc lót trách nhiệm về giá chào bán. Sự ràng buộc này đặt các thành viên nội bộ và người sáng lập phải có nghĩa vụ (liable) đối với nhà đầu tư nếu cổ phiếu họ đã mua trong đợt IPO bị rớt xuống dưới mệnh giá sau đó. Ngoài ý nghĩa bảo vệ như vậy, mệnh giá còn để nuôi dưỡng môi trường IPO, do đây là nguồn cung chứng khoán chủ yếu cho thị trường, đồng thời tạo sự công bằng cho kẻ trước người sau.

Quy định cổ phần có mệnh giá cũng có mục đích hình thành cấu phần vốn cái (principal) trên sổ sách mà thế giới gọi là legal capital (vốn pháp lý) và ở ta quen gọi là ‘vốn điều lệ’. Khoản vốn này là tổng mệnh giá góp đủ của toàn bộ cổ phần đã phát hành và buộc doanh nghiệp phải duy trì trong suốt thời gian hoạt động. Dù được xem là khoản ‘bảo kê’ cho người tài trợ, thật ra đây chỉ là chỗ bám víu mong manh của họ khi doanh nghiệp có vấn đề. Nhưng dù sao thì doanh nghiệp cũng tuyệt đối không được để khoản vốn cái này hao hụt. Nói khác đi, trong mọi trường hợp, hiệu số của tổng tài sản và tổng nợ sẽ không được thấp hơn legal capital.

Xét về phương diện lịch sử, vào thời buổi TTCK còn sơ khai, chưa có hành lang pháp luật, các ước lệ hành xử tối thiểu vẫn rất cần cho cuộc chơi chung. Quy định về mệnh giá là cách đảm bảo kỷ luật, yêu cầu minh bạch và tính trung thực giữa những người chơi với nhau, nhất là không để các ‘nhà cái’ có điều kiện hành xử tùy tiện. Theo ước lệ đó, doanh nghiệp phải xác định mệnh giá lúc IPO và cam kết việc giao dịch hay phát hành về sau, giá này sẽ không thấp hơn. Thông lệ hành xử này về sau được các nước đưa vào luật, nhưng theo cách để mở, cho doanh nghiệp ‘tự vẽ bùa và tự đeo’, chứ không đóng khung áp đặt ‘đồng bộ’.

Thế nhưng, theo thời gian, quy định về mệnh giá đã nhạt dần và hiện diện như một yếu tố theo thông lệ. Thật vậy, do mệnh giá rất dễ bị thị trường nghiệt ngã chọc thủng, doanh nghiệp đã ngày một ‘khôn’ lên khi họ bị đẩy vào rủi ro pháp lý. Mệnh giá từ đó đã được định thấp dần. Nếu vào đầu thế kỷ 20, hầu hết cổ phần tại Mỹ có mệnh giá 100 USD thì nay rất hiếm doanh nghiệp IPO với mệnh giá trên 1 USD, thậm chí có những doanh nghiệp phát hành với mệnh giá 0,0001 USD. Điều này giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro nghĩa vụ (liability risk), không bị trắc trở trong quá trình IPO hay ách tắc khi cần huy động vốn mới. Đặc biệt, mệnh giá thấp còn giúp người sáng lập có điều kiện duy trì tỷ lệ sở hữu kiểm soát doanh nghiệp sau khi ra đại chúng.

Xu hướng chung của thế giới không chỉ dừng lại ở việc giảm nhẹ tầm quan trọng của mệnh giá, mà còn gỡ bỏ hẳn, cho phép doanh nghiệp được phát hành cổ phiếu không mệnh giá (no par). Sự thông thoáng này tuy đã rất phổ biến, nhưng luật lệ nhiều nước hiện vẫn giữ mệnh giá. Riêng ở Mỹ có bang bỏ mệnh giá như California, có bang vừa duy trì mệnh giá, vừa cho phép không mệnh giá như Delaware. Nhưng dù thế nào thì mục đích vẫn là để phục vụ doanh nghiệp và thị trường phát triển lành mạnh và nề nếp. Luật Chứng khoán 1934 của Mỹ cho phép nhà đầu tư khởi kiện đòi công ty bồi đền trong trường hợp giá thị trường giảm thấp hơn mệnh giá sau IPO.


Quy định mệnh giá cứng như cái bẫy rủi ro buộc các doanh nghiệp chuẩn bị IPO phải thận trọng

Công ty cổ phần và TTCK là hai định chế có đặc điểm gắn kết nhân quả được du nhập vào Việt Nam, nhưng luật (và lệ) ở ta lại không tương thích nên trục trặc là điều khó tránh. Về vốn pháp lý, Luật Doanh nghiệp quy định vốn điều lệ gắn với mệnh giá, nhưng chưa thấy có biện pháp hay quan tâm quy trách nào đối với các trường hợp khoản vốn cái này bị gặm nhấm và teo tóp lại. Về mệnh giá, Luật Chứng khoán quy định là 10.000 đồng lúc IPO, nhưng chưa thấy công ty nào có trách nhiệm hoặc ai than phiền gì khi giá trị thực cổ phần về sau giảm sâu hơn mệnh giá, xuống còn dăm ba ngàn. Các trường hợp bị “thủng đáy” (phạm luật) như vậy lại không phải ít. Bên cạnh đó là những ‘lệ’ lạ, như xem vốn điều lệ là thước đo doanh nghiệp, nặng quản lý, lấy đó làm căn cứ trách nhiệm hữu hạn, định ngưỡng chuẩn, điều chuyển vốn thặng dư... và chẳng cần biết các lệ này sẽ ra sao khi cổ phần không còn mệnh giá.

Mặt khác, tại Việt Nam, tuy mệnh giá và vốn điều lệ được xem trọng, nhưng việc này có vẻ mới dừng ở định nghĩa, thiếu các tiểu tiết ràng buộc mặc định về bản chất, công dụng và mục đích ý nghĩa thực thi. Vốn điều lệ là khoản nào cũng chưa được xác định nhất quán như cách của thế giới. Đó có phải là tổng mệnh giá góp đủ? Có gồm loại ưu đãi hay không? Chưa rõ. Bên cạnh tình trạng kém tương thích, sự thiếu kết nối cũng đã gây ra các sự cố ‘đứng hình’. Mệnh giá tuy được thả lỏng tại Luật Doanh nghiệp, nhưng lại bị áp đặt cứng ở Luật Chứng khoán. Thế là nếp hiểu ‘cứ cổ phần là đồng giá mười ngàn’ mặc nhiên tồn tại. Và đây mới chính là nút thắt gây ách tắc.

Nếu các doanh nghiệp niêm yết trước đây chưa biết cảnh giác trước nút thắt kia và nay đụng chuyện mới tá hỏa bó tay, thì quy định mệnh giá cứng sẽ vẫn còn đó như cái bẫy rủi ro buộc các doanh nghiệp chuẩn bị IPO phải thận trọng. Hơn nữa, mệnh giá cứng cũng đồng thời khóa chặt cánh cửa ứng dụng các kỹ thuật tách gộp cổ phần, thay vào đó là cách vận dụng lập lờ, phi chính thống. Trong khi đó, việc không cho các DNNN thoái vốn dưới mệnh giá cũng có thể sẽ vô lý nếu (giả định) trước đó doanh nghiệp mua 100 cổ phần giá 15.000 đồng/CP, về sau được chia thêm 100 cổ phần nữa và nay thoái toàn bộ 200 cổ phần này với giá 9.000 đồng/CP.

Mệnh giá không thể là đồng phục. Việc áp đặt ‘đồng giá’ lên các đơn vị niềm tin là không khoa học, thiếu cơ sở, thực tế đã làm khổ nhau và tự giam hãm mình. Xu hướng xem nhẹ, gỡ bỏ, không gò bó rào giậu, đã là kinh nghiệm phổ biến của thế giới. Bởi khi trách nhiệm và nghĩa vụ được cấy vào doanh nghiệp, đặt lên vai những người cầm lái, thì hiệu lực tự quản sẽ cao hơn.

Hệ thống đã báo lỗi do nhập liệu không tương thích... Suy cho cùng, mệnh giá cứng như cái ‘vòng kim cô’ kìm hãm không riêng cho doanh nghiệp. Vậy ta có nên tiếc ‘mười ngàn’?

“Không nên quy định về mệnh giá cổ phần”


TS. Nguyễn Thị Ánh Vân,Giám đốc Trung tâm Luật so sánh, Đại học Luật Hà Nội

Từ thực tiễn Việt Nam, cũng như tham khảo kinh nghiệm quốc tế, để giải tỏa bất cập của quy định về mệnh giá, Ban soạn thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi nên cân nhắc lựa chọn một trong hai phương án: không quy định mệnh giá cổ phần, để tạo thuận lợi tối đa cho DN chào bán cổ phần theo nguyên tắc thị trường, thuận mua vừa bán; nếu tiếp tục duy trì quy định mệnh giá cổ phần, thì nên đưa mệnh giá cổ phần xuống rất thấp, để đảm bảo rằng gần như không bao giờ xuất hiện tình trạng thị giá cổ phiếu giảm quá mệnh giá cổ phần. Điều này tạo thuận lợi cho DN triển khai các đợt phát hành tăng vốn, khi hình ảnh DN không bị tác động tiêu cực do không rơi vào trường hợp phải phát hành dưới mệnh giá.
Huy Nam

Ngân hàng Societe Generale chuyên tài trợ xuất nhập khẩu hôm nay (5/9) công bố bổ nhiệm bà Hồ Thị Mỹ Dung làm trưởng đại diện văn phòng Việt Nam thay thế cho người tiền nhiệm bà Lê Thị Thanh Thu.

Đại diện Văn phòng Ngân hàng Societe Generale có trụ sở tại Hà Nội, cho biết ngân hàng sẽ tiếp tục tài trợ dự án và tín dụng xuất nhập khẩu. Societe Generale là một trong những tập đoàn tài chính lớn nhất châu Âu, có lịch sử 150 năm đối với các nền kinh tế thế giới, hoạt động theo mô hình ngân hàng toàn cầu, đa dạng sản phẩm.

Tại Việt Nam hoạt động Ngân hàng Societe Generale mới chỉ được giới tài chính biết đến là một định chế tài chính có mặt trong đầu tư vào một số TCTD và các chỉ số đầu tư chính trên thị trường quốc tế và các hoạt động thanh toán tài trợ cho những dự án Chính phủ và những hoạt động thương mại Việt – Pháp.

Đ.H


Các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trong hệ thống hiện phải thực hiện 7 loại nghĩa vụ tài chính...


Theo phản ánh của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội, các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trong hệ thống Ngân hàng hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) quản lý hiện phải đóng quá nhiều thuế và phí.

Các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trong hệ thống hiện phải thực hiện 7 loại nghĩa vụ tài chính, trong đó có 2 loại thuế và 5 loại phí. Nhiều quỹ đang “kêu” lên cơ quan quản lý giảm và loại bỏ một số khoản trùng lắp.

Theo phản ánh của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội, các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trong hệ thống Ngân hàng hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) quản lý hiện phải đóng quá nhiều thuế và phí, thậm chí, hoạt động dính đến đơn vị nào là đơn vị đó thu phí.

Thuế, phí đè nặng oằn vai

Trước hết về thuế, các quỹ phải đóng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức 20% và thuế suất thuế lợi tức góp vốn tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) ở mức 5%.

Ngoài hai loại thuế này, quỹ tín dụng phải đóng tiếp 5 loại phí và duy trì tiền gửi tối thiểu, gồm: phí nộp cho Liên minh hợp tác xã Việt Nam; phí cho Hiệp hội quỹ tín dụng nhân dân; 3% số tiền/tổng nguồn huy động nộp được gọi là “duy trì tiền gửi tối thiểu” tại Co-opBank nhằm hỗ trợ thanh khoản; tất nhiên, Co-opBank trả cho người gửi là 5%/năm; phí trích nộp quỹ bảo toàn theo quy định tại khoản 2, điều 4, chương II của Thông tư 03/2014/TT – NHNN.

Trong số những khoản trên, có khoản bị cho là trùng lắp, chẳng hạn: theo văn bản số 177/QC/HĐQT/NHHT ngày 28/3/2014 và Nghị quyết đại hội thành viên thường niên ngày 25/3/2014 của Co-opBank thì mức thu trên tài khoản duy trì tiền gửi tối thiểu tại Co-opBank là 3%/tổng nguồn huy động của quỹ. Số tiền này nhằm hỗ trợ chi trả cho quỹ trong hệ thống khi gặp khó khăn.

Trong khi đó, tại khoản 2, điều 4 của Thông tư 03/2014/TT-NHNN về “Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân” cũng quy định rất rõ: từ năm 2014, Co-opBank, quỹ tín dụng nhân dân (trừ trường hợp đang bị áp dụng kiểm soát đặc biệt) có trách nhiệm trích nộp phí tham gia đầy đủ, đúng hạn vào quỹ bảo toàn một năm một lần trước ngày 31/1 của năm tiếp theo.

Mức phí trích nộp hàng năm bằng 0,08% dư nợ cho vay bình quân của năm liền kề trước kết thúc vào ngày 31/12 của Co-opBank, quỹ tín dụng nhân dân.

Chỉ khi nào tổng nguồn vốn hoạt động của quỹ bảo toàn đạt 1,5 lần tổng tài sản có của hệ thống tổ chức tín dụng là hợp tác xã, quỹ bảo toàn sẽ tạm thời ngừng thu phí tham gia của các thành viên và tiếp tục thu phí khi tổng nguồn vốn hoạt động của quỹ bảo toàn thấp hơn mức nêu trên.

Ông Trần Quốc Hùng, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội cho rằng, mục đích của việc duy trì tiền gửi tối thiểu tại Co-opBank và mục đích của quỹ bảo toàn hệ thống đều giống nhau, ở chỗ: đảm bảo hỗ trợ kịp thời cho các quỹ tín dụng khi gặp khó khăn về tài chính, khó khăn về chi trả.

Thế nên, đã có quỹ bảo toàn hệ thống thì không cần phải duy trì tiền gửi tối thiểu tại Co-opBank. Hơn nữa, bản thân các quỹ tín dụng đã thực hiện và tuân thủ khả năng chi trả như quy định tại điều 10, điều 11 của Quyết định 1328/2005/QĐ-NHNN ngày 6/9/2005.

Như vậy, nếu cơ quan quản lý không giải quyết bất cập này thì sẽ tồn tại tình trạng, cùng một mục đích là giữ thanh khoản, chi trả, quỹ tín dụng vừa phải đóng 3% số tiền gửi tối thiểu tại Co-opBank/tổng nguồn huy động; vừa phải đóng 0,08% dư nợ cho vay bình quân hàng năm.

Thử hình dung, chỉ tính riêng dư nợ 9 tháng đầu năm 2012 của các hệ thống quỹ tín dụng lên tới 33.549 tỷ đồng (nguồn Ngân hàng Nhà nước), mức phí 0,08% của con số này cộng với các khoản phải nộp khác, thực sự là gánh nặng tài chính đối với các quỹ tín dụng nhân dân.

Giải quyết như thế nào?

Trao đổi với ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Quỹ Tín dụng nhân dân Đa Tốn (Gia Lâm, Hà Nội), ông cho biết, thực ra, bất cập từ việc yêu cầu các quỹ tín dụng duy trì tối thiểu 3%/tổng nguồn huy động về Co-opBank còn ở chỗ: với những quỹ huy động tốt, dư nguồn thì không vấn đề gì vì họ dư nguồn, trong khi gửi về Co-opBank còn được nhận lãi 5%/năm.

Nhưng đối với các quỹ nghèo, nguồn hạn hẹp mà lại phải ghim lại 3%/tổng nguồn tại Co-opBank thì càng làm cho nguồn nghèo thêm, thiếu khả năng luân chuyển vốn, ảnh hưởng đến kinh doanh.

Thứ hai, mức phí 0,08% dư nợ đóng quỹ bảo toàn theo Thông tư 3 là quá nhiều. Ông Hùng dẫn chứng, dư nợ của quỹ Đa Tốn ước khoảng 50 tỷ/năm, như vậy, mỗi năm quỹ bị mất đi 40 triệu đồng.

“Nên duy trì mức quỹ này khoảng 0,01% là vừa phải, không nên thu nhiều quá. Tôi có phản ánh với cấp trên và được giải thích là khi nào quỹ lớn gấp 1,5 lần như quy định thì dừng thu. Đó là nói thế, chứ đời nào người ta dừng”, ông Hùng nói.

Đồng quan điểm này, trong báo cáo đề xuất của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội đã đề cập, nên xem xét mức trích nộp quỹ bảo toàn ở tỷ lệ 0,02 - 0,03% là phù hợp. Cùng đó, phải loại trừ vay cầm cố bằng số tiền gửi do quỹ phát hành trong dư nợ cho vay để tính mức phí an toàn hệ thống.

Mức trích nộp phí hàng năm nên được quản lý tại quỹ tín dụng nhân dân giống như nguồn dự phòng chung để tăng năng lực tài chính cho quỹ cơ sở. Chỉ khi nào Nhà nước cần huy động thì yêu cầu quỹ chuyển về Trung ương để thực hiện mục đích chi trả như quy định.

Ngoài ra, ông Hùng cũng cho rằng, việc thu thuế lợi tức góp vốn tại Co-opBank 5% là không phù hợp. Vì rằng, nguồn vốn này nhằm tăng năng lực tài chính cho Co-opBank và tất nhiên, khi hoạt động có lãi thì phải chia lợi tức cho người góp vốn. Nguồn lợi tức này nên để cho người góp vốn được hưởng 100%.

Cũng giống như việc gửi tiền vào ngân hàng không thu phí thì việc góp vốn vào Co-opBank cũng không nên thu phí.

Liên quan đến mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp 20%, theo ông Hùng, cũng nên giảm xuống ở mức dưới 20% vì chênh lệch lãi suất vào ra đối với cho vay hộ nghèo ở nông thôn không nhiều, nếu giảm được thì chính các hộ vay cũng được lợi, góp phần vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, chứ không riêng gì quỹ tín dụng cơ sở được lợi.

BizLIVE -
Khối lượng giao dịch ở cổ phiếu lớn này không những chẳng bị giảm mà còn tăng mạnh so với nhiều phiên trước đó.


Giao dịch ở MSN vẫn sôi động dù bị cắt margin tại các CTCK.

Trong 7 phiên gần đây, khối lượng giao dịch của MSN chỉ dưới mức 300.000 đơn vị. Tuy nhiên, ngay sau thông tin bị HOSE cho “out” khỏi danh sách đủ điều kiện giao dịch ký quỹ do thua lỗ, cổ phiếu này lại được mua bán sôi động mạnh hơn.

Cụ thể, phiên hôm nay (5/9), khối lượng giao dịch thành công ở cổ phiếu của Tập đoàn Masan đạt 371.700 đơn vị, tức tăng hơn 57% so với khối lượng chuyển nhượng phiên hôm qua cũng như tăng mạnh so với nhiều phiên trước.

Chốt phiên, giá cổ phiếu MSN điều chỉnh giảm 1.000 đồng còn 84.000 đồng/cp.

Trên sàn, mặc dù lượng cổ phiếu tăng giá chiếm áp đảo so với số mã giảm giá nhưng VN-Index vẫn không giữ được sắc xanh do một số trụ cột giảm đỏ như GAS giảm 2.000 đồng; VIC giảm 2.000 đồng.

Chốt tuần, VN-Index mất mốc 640 khi giảm 1,57 điểm, tương đương 0,25%, chốt mức 638,65 điểm. Giá trị giao dịch đạt 3.095 tỷ đồng với hơn 161 triệu đơn vị giao dịch.

Dẫn đầu về khối lượng giao dịch trên HOSE là FLC với 13,66 triệu đơn vị. Cổ phiếu này chốt mức tham chiếu 13.000 đồng/cp. Ngoài ra còn có ITA đạt hơn 7 triệu đơn vị; VIC với hơn 5 triệu đơn vị; SAM hơn 4 triệu và KBC hơn 3,7 triệu đơn vị…

Trên sàn Hà Nội, HNX-Index tiếp tục tăng điểm phiên thứ 9 liên tiếp khi tăng mạnh 1,04 điểm, tương đương 1,19%, đóng tuần ở mức 88,54 điểm. Như vậy chỉ số sàn này đã leo lên mức cao nhất trong vòng hơn 5 tháng qua, kể từ phiên 31/3.

Giá trị giao dịch trên HNX đạt 943 tỷ đồng với gần 76 triệu đơn vị được khớp lệnh. Toàn sàn có 133 mã tăng giá, 142 mã đứng giá và 89 mã giảm giá.

PVX vẫn là mã được mua bán tích cực nhất, đạt gần 12 triệu đơn vị, tiếp đến là SCR và KLF cùng đạt hơn 6 triệu đơn vị…

Vì sao MSN bị loại khỏi danh mục ký quỹ?

Lần đầu tiên một cổ phiếu lớn trên HOSE bị loại khỏi danh sách cổ phiếu đủ điều kiện giao dịch ký quỹ do kết quả kinh doanh thua lỗ. (Xem tiếp)

SCIC muốn bán hết 6 triệu cổ phiếu DBC

Theo giá thị trường, tổng giá trị số cổ phiếu này ước tính khoảng 152 tỷ đồng. (Xem tiếp)

“ETF sẽ làm thay đổi văn hóa đầu tư tại Việt Nam”

Quỹ ETF mở cơ hội cho những người mong muốn một chiến lược đầu tư an toàn trong dài hạn... (Xem tiếp)

Vận tải SAFI sắp tạm ứng cổ tức 30%

Dự kiến, SAFI sẽ chi ra khoảng 30,9 tỷ đồng tạm ứng cổ tức đợt 1 năm 2014 cho cổ đông. (Xem tiếp)

“Soi” danh mục gần 9.000 tỷ của FTSE Vietnam ETF trước ngày review

Tính trong vòng 1 năm qua, NAV của FTSE Vietnam ETF tăng 40,8%. Tuy nhiên, tính từ khi đi vào hoạt động từ tháng 1/2008 đến nay, NAV của quỹ này vẫn giảm tới 60%. (Xem tiếp)

Chứng khoán mất đà đảo chiều bất chấp tin tích cực từ ECB

Chứng khoán Mỹ đánh mất những gì có được trong phiên thứ Năm, lún sâu vào cuối phiên sau khi hiệu ứng từ tin ECB cắt lãi suất phai nhạt, CNBC ghi nhận. (Xem tiếp)

APS: Ủy viên HĐQT muốn bán 2 triệu cổ phiếu

Nhằm phục vụ nhu cầu tài chính cá nhân, bà Huỳnh Thị Mai Dung, Ủy viên HĐQT CTCP Chứng khoán An Phát (APS – sàn HNX) đăng ký bán 2 triệu cổ phiếu APS. Thời gian giao dịch dự kiến từ ngày 9/9 đến ngày 3/10. Phương thức giao dịch là thỏa thuận và khớp lệnh.

Đầu tư & Phát triển Trường An đấu giá 6 triệu cp, khởi điểm 90,000 đồng/cp

Sở Giao dịch Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh thông báo việc tổ chức đấu giá bán cổ phần của Công ty Cổ phần Đầu tư Long Biên do Công ty TNHH Một thành viên Đầu tư & Phát triển Trường An nắm giữ như sau: đấu giá 6 triệu cp với giá khởi điểm 90,000 đồng/cp.

DC4: 15/09 GDKHQ nhận cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 5%

Ngày đăng ký cuối cùng: 17/09/2014. Ngày giao dịch không hưởng quyền: 15/09/2014. Lý do: Trả cổ tức bằng cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, tỷ lệ thực hiện: 5%.

OPC: Bán 59,000 cp quỹ với giá bằng 40% giá thị trường

CTCP Dược phẩm OPC (HOSE: OPC) vừa thông qua phương án bán 59,000 cp quỹ cho người lao động Công ty với giá bằng 40% thị trường. Tổng số tiền thu về dự kiến là gần 1.5 tỷ đồng sẽ được bổ sung vào nguồn vốn hoạt động kinh doanh của Công ty.

Công ty Bảo Thư được chấp thuận niêm yết trên Sở GDCK Hà Nội

Ngày 4/9/2014, Sở GDCK Hà Nội đã thông báo chấp thuận CTCP Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Bảo Thư niêm yết 32,8 triệu cổ phiếu, tương đương giá trị chứng khoán niêm yết là 328 tỷ đồng.

Cao su Đồng Phú dự kiến mua lại 2 triệu cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ

Thời gian dự kiến mua trong tháng 9 -10/2014. Giá mua không vượt quá 50.000 đồng/cổ phiếu. Nguồn vốn thực hiện mua lại là 100 tỷ đồng từ nguồn vốn thặng dư vốn cổ phần của công ty tính đến hết tháng 6/2014.


Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

Hàng Việt đang ngày càng khẳng định sức lan tỏa, chiếm lĩnh thị trường, không chỉ ở siêu thị, cửa hàng mà còn tại các chợ truyền thống, chợ nông thôn. Hiện có đến gần 80% người tiêu dùng trong nước đã tin, dùng hàng Việt.


Với sức lan tỏa mạnh, hàng Việt ngày càng chiếm ưu thế trên thị trường

CôngThương - Tạo niềm tin

Việc lựa chọn ưu tiên hàng Việt Nam đang trở thành thói quen tiêu dùng của nhiều người dân trên cả nước. Đó là do hàng Việt Nam sản xuất có chất lượng ngày càng cao, mẫu mã phong phú. Việc lưu thông được cải thiện với nhiều kênh phân phối tỏa khắp mọi miền đất nước, đặc biệt là việc đưa hàng Việt về các chợ truyền thống, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, các khu chế xuất, khu công nghiệp đã được triển khai sâu rộng.

Với sức lan tỏa mạnh, hàng Việt đang ngày càng chiếm ưu thế trên thị trường. Từ các siêu thị, trung tâm thương mại, chợ dân sinh đến các cửa hàng tạp hóa… hàng nội đã chiếm tỷ lệ lớn so với hàng ngoại nhập. Tại hệ thống siêu thị Saigon Co.op, Big C, hàng Việt chiếm 80-90%, thậm chí Vinatexmart có tỷ lệ hàng Việt chiếm 100%. Việc ngày càng xuất hiện nhiều cửa hàng thời trang “Made in Vietnam” đã chứng tỏ sức lan tỏa của thương hiệu Việt. Đặc biệt, với thị trường nông thôn, trước đây tràn ngập hàng Trung Quốc giá rẻ, giờ đây, bà con đã tìm đến với hàng Việt. Đó là nhờ những chuyến đưa hàng về nông thôn, các phiên chợ hàng Việt được tổ chức liên tục tại vùng sâu, vùng xa, nông thôn, miền núi.

Thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, 5 năm qua, các Sở Công Thương đã tổ chức gần 2.000 đợt bán hàng về nông thôn với hơn 53.000 lượt doanh nghiệp (DN) tham gia cùng 48.000 gian hàng, thu hút trên 3 triệu lượt người dân địa phương đến tham quan, mua sắm, mang lại doanh thu hơn 34,47 ngàn tỷ đồng. Chị Bùi Thị Xuyến, ở thôn Váo, xã Yên Bình, huyện Thạch Thất, Hà Nội - chia sẻ: Trước đây, tôi cũng như nhiều bà con khác trong vùng không biết rõ về xuất xứ của sản phẩm, người bán bán gì thì mua nấy. Nhưng nay, nhờ có các phiên chợ hàng Việt, tôi có cơ hội biết và dùng hàng Việt nhiều hơn và rất an tâm khi sử dụng.

Theo đánh giá của Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương), niềm tin và tình cảm của người dân Việt Nam đối với hàng nội không ngừng được nâng cao. Đến nay, có đến gần 80% người tiêu dùng trong nước đã tin tưởng chất lượng và mua hàng Việt. Điều này đã giúp hàng Việt nâng cao sức cạnh tranh, làm thay đổi suy nghĩ, thói quen sính hàng ngoại của người tiêu dùng.

Không chỉ hàng tiêu dùng, tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm đầu vào, nguyên liệu cũng như thiết bị, máy móc của các doanh nghiệp đã tăng bình quân 25%. Đây là tín hiệu đáng mừng đối với nền kinh tế.

Theo cam kết gia nhập Khu vực Cộng đồng Asean, cụ thể là Cộng đồng Kinh tế Asean, bước sang năm 2015, lĩnh vực bán lẻ sẽ không có bất cứ rào cản nào đối với các nhà đầu tư ngoại và các hàng hóa thông thường của các nước Asean sẽ được bãi bỏ 100% thuế suất. Đây là thách thức lớn đối với hàng Việt và DN Việt Nam.

Khẳng định vị thế, chiếm lĩnh thị trường lâu bền

Sau 5 năm tổ chức Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, nhiều DN đã xây dựng mạng lưới phân phối vững chắc. Đơn cử như Tập đoàn Dệt may (Vinatex) và các đơn vị thành viên đã tích cực mở rộng mạng lưới phân phối, hiện có tới 4.125 điểm bán hàng ở hầu khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước. Các tập đoàn, tổng công ty cũng đang tích cực mở thêm các điểm bán hàng tới khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo. Nhiều DN đã năng động đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh trong sản xuất, kinh doanh, đem đến cho người tiêu dùng Việt những sản phẩm chất lượng cao, ngày càng chiếm lĩnh thị trường trong nước.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa, vẫn còn xảy ra tình trạng các đơn vị, DN chưa tích cực nâng cao chất lượng, quảng bá sản phẩm ra thị trường. Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm thiếu tính ổn định, cùng với tình trạng hàng lậu, hàng giả không được kiểm soát chặt chẽ… đã khiến một bộ phận người tiêu dùng chưa tin tưởng vào hàng Việt.

Theo các chuyên gia kinh tế, vấn đề đặt ra là, làm thế nào để hàng Việt có thể chiếm lĩnh thị trường lâu bền. Điều này phụ thuộc vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường các kênh phân phối ở vùng sâu, vùng xa và các chương trình kích cầu tiêu dùng của chính DN. Việc đưa hàng Việt vào chợ truyền thống đang gặp khó khăn do phải cạnh tranh gay gắt với hàng nhập lậu, hàng không có nguồn gốc xuất xứ, hàng giá rẻ... Bên cạnh đó, người tiêu dùng chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với những sản phẩm do DN trong nước sản xuất vì thiếu hệ thống phân phối, thiếu quảng bá... Mặt khác, DN Việt Nam chưa thực sự chủ động trong việc khẳng định vị thế và chiếm chỗ đứng ở thị trường trong nước. Điều này, các DN Việt cần học hỏi từ DN nước ngoài, đặc biệt là DN Thái Lan, khi hiện nay họ đang dần tăng cao thị phần tại thị trường Việt Nam. Việc Metro Việt Nam đã về tay tỷ phú Thái Lan đã khiến không chỉ DN bán lẻ Việt Nam lo ngại mà những nhà sản xuất trong nước cũng hết sức lo lắng khi mạng lưới phân phối hàng Việt có nguy cơ bị thu hẹp. Theo các chuyên gia kinh tế, đã đến lúc, chúng ta cần có quy định về tỷ lệ bán hàng Việt đối với từng mặt hàng mà DN trong nước đã sản xuất tại các siêu thị, trung tâm thương mại. Điều này không chỉ tạo cho DN sản xuất trong nước có cơ hội quảng bá sản phẩm, mà còn giúp người tiêu dùng khi đến những kênh phân phối hiện đại này tiếp cận được với hàng Việt.

Bên cạnh đó, tới đây, khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập vào năm 2015, các DN Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường, nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Bởi vậy, các DN Việt cần có chiến lược dài hạn và liên kết chặt chẽ để sản xuất hàng hóa chất lượng, giá cả phù hợp với từng đối tượng tiêu dùng. Có như vậy, hàng Việt mới chiếm lĩnh được thị trường nội địa một cách lâu bền.

Lê Kim Liên


Với sức lan tỏa mạnh, hàng Việt ngày càng chiếm ưu thế trên thị trường

PHẢN HỒI

Đào được 6,9 tấn vàng nhưng Cty Besra VN nợ tiền thuế, DN và người dân hàng trăm tỷ đồng. / Cty vàng đầm đìa trong nợ


Khai thác được 6,9 tấn vàng nhưng Cty Besra VN nợ hàng trăm tỷ đồng

Hiện sự việc đang được cơ quan chức năng tỉnh Quảng Nam và các Bộ, ngành Trung ương tổng hợp để báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo yêu cầu. Đó là những thông tin được UBND tỉnh Quảng Nam cho biết.

Tại cuộc họp báo, PV các báo đặt nhiều câu hỏi liên quan đến việc xử vấn đề nợ của Cty Besra VN (là Cty điều hành 2 Cty con là Cty TNHH khai thác vàng Bồng Miêu và Cty TNHH khai thác vàng Phước Sơn).

Ông Ngô Bốn, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Quảng Nam cho biết, diễn biến thu thuế 2 Cty vàng là khó khăn hơn 1 năm nay, Cục thuế Quảng Nam thực hiện bằng nhiều biện pháp quản lý nợ trên tinh thần là mềm dẻo theo nghị quyết của Chính phủ. Tuy nhiên Cty thiếu hợp tác cam kết theo kiểu không có tính khả thi nên cục thuế đã áp dụng biện pháp cưỡng chế thuế.

Liên quan đến việc làm sao để thu được thuế?. Ông Bốn cho rằng, tính đến cuối tháng 6/2014, Cty Besra VN (Cty) nợ là 293 tỷ đồng, số tiền thuế này nằm trong doanh thu Cty, vì Cty đã bán được vàng. Ngoài ra, theo báo cáo tài chính của Cty Vàng Phước Sơn năm nào có cũng lãi.

“Tiền Cty đã thu về, thuế này là thuế nằm trong doanh thu, đã bán được vàng thì phải nộp nhưng Cty sử dụng vào việc của họ và không nộp thuế. Trong khi cơ quan thuế thực thi nhiệm vụ chỉ ở mức độ biện pháp cưỡng chế thuế, việc không thu được là điều đáng tiếc”, ông Bốn nói.



Ông Ngô Bốn

Nói đến công văn 2933 của UBND tỉnh Quảng Nam yều cầu Cty trả nợ dần trong vòng 24 tháng, như vậy sẽ không đúng quy định pháp luật (trả nợ thuế trong vòng 12 tháng - PV), ông Bốn cho hay, tại điểm 1 của công văn nói “là đề nghị cục thuế theo Luật quản lý thuế, mời đơn vị đến cam kết nộp dần tiền thuế trong thời gian 24 tháng”.

Nhưng trong công văn cũng nêu rõ nếu vượt thẩm quyền hoặc có vướng mắc thì báo cáo Tổng Cục thuế, Bộ Tài chính để xem xét. Như vậy, công văn này đúng không có sai.

Nói đến việc Cty có những dấu hiệu trốn thuế, gian lận về thuế, PV đặt câu hỏi trường hợp ở Cty Besra VN có khởi tố được không? Ông Bốn cho hay, gian lận đối với DN, đặc biệt là trốn thuế thì Trung ương có một văn bản quy chế phối hợp giữa các ngành với nhau, khi chúng tôi kiểm tra thuế không điều tra kỹ được mà DN có dấu hiệu thì làm văn bản để điều tra.

Như trước đây chuyện Cty đưa 61 tỷ đồng qua cửa khẩu sân bay Đà Nẵng được phát hiện ngày 14/7 liền báo cáo cơ quan công an vào cuộc. Trường hợp này cơ quan công an đang làm, thẩm quyền quyết định của cơ quan công an.

“Rõ ràng tội trốn thuế 100 triệu trở lên là đã khởi tố, những việc này chúng tôi đưa sang cơ quan công an xem xét. Tuy nhiên chúng ta không hình sự hóa hết các nợ đọng kinh tế, cái này có chỉ đạo, cũng tùy tình hình”, ông Bốn chia sẻ.

Liên quan đến việc giám sát, đánh giá tài sản của Cty thì lãnh đạo tỉnh Quảng Nam cho biết, tài sản DN căn cứ vào giấy phép đầu tư, nên vấn đề tài sản hiện có của DN có đảm bảo đủ cho việc thực thi cưỡng chế thu hồi nợ, là việc của cơ quan chức năng, tỉnh chưa nắm được hết.



Một điểm quặng Cty Besra VN khai thác

Ông Nguyễn Chín, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho hay, như chúng ta đã biết, hoạt động của một DN là phải thực hiện các quy định của pháp luật, nhưng quy định pháp luật phải có trình tự, chứ không phải mình muốn cưỡng chế, khởi tố lúc nào là khởi tố.

Quy định của phá sản của DN lại có Luật phá sản, dừng một DN là một quá trình không đơn giản. Mà đây là có yếu tố nước ngoài, do đó là để thực hiện quy trình phá sản DN là không đơn giản.

“Quan điểm của tỉnh Quảng Nam tiếp tục thực hiện cưỡng chế thuế, những vấn đề vượt thẩm quyền đang tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Hiện Quảng Nam đã báo cáo ra Bộ Tài chính cùng với các Bộ ngành đang báo kiểm tra và báo cáo Thủ tướng Chính phủ”, ông Chín nói.


Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

KTĐT - Kiên trì giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, linh hoạt về sách lược, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu, triển khai đồng bộ, toàn diện, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" là bài học lớn và công cụ hiệu quả nâng tầm vị thế quốc tế của đất nước.
Từ chỗ bị bao vây cấm vận, đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 170 nước. Riêng năm 2013 đã nâng cấp quan hệ lên tầm Đối tác chiến lược với Italia, Indonesia, Thái Lan, Singapore, Pháp; quan hệ Đối tác toàn diện với Mỹ và Đan Mạch. Nếu tính những quan hệ Đối tác đã thiết lập trước đó với Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản... thì Việt Nam đã thiết lập 13 Đối tác chiến lược và 11 Đối tác toàn diện, trong đó có 5 nước lớn là Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc. Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam đã có quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hóa với trên 230 nước và vùng lãnh thổ; ký kết hơn 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế.

Bên cạnh việc gia tăng đại diện ở nước ngoài, với 65 đại sứ quán, 20 tổng lãnh sự quán, 4 phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế, 1 văn phòng kinh tế văn hóa, Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển châu Á, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới. Hiện nay, ngoài Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã ký 8 Hiệp định thương mại tự do song phương (FTA) và đang đàm phán 8 FTA khác… đặc biệt là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Đối tác kinh tế khu vực toàn diện (RCEP)… Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) tập trung các đối tác chiến lược quan trọng và các đối tác kinh tế - thương mại hàng đầu của Việt Nam và hiện là khu vực giành viện trợ phát triển lớn nhất, chiếm tới 65% tổng số vốn đầu tư nước ngoài, 60% giá trị xuất khẩu, 80% giá trị nhập khẩu, và 75% tổng số khách du lịch quốc tế tới Việt Nam. Nhờ việc Việt Nam nỗ lực thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết và hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức này; tiến hành nhiều cải cách theo hướng minh bạch, tự do hóa và mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, hiện 43 nước đã công nhận Việt Nam có quy chế kinh tế thị trường.
Các hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch cũng được đẩy mạnh hỗ trợ ngành, địa phương, doanh nghiệp tìm đối tác, mở rộng thị trường. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến và giảm dần hàng xuất khẩu thô. Tốc độ tăng xuất khẩu gần như liên tục đạt 2 con số. Quy mô xuất khẩu bình quân đầu người năm 1985 mới đạt 11,7 USD nhưng đến năm 2013, con số này là 1.450 USD (cao gấp gần 124 lần năm 1985). Tỷ lệ xuất khẩu so với GDP tăng khá nhanh: năm 1985 mới đạt 5%, năm 2013 đạt trên 75%, cao hơn tỷ lệ của Đông Nam Á, cao gấp ba lần tỷ lệ của châu Á và thế giới, đứng thứ 5 trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu năm 2013 cao gấp 186,1 lần năm 1985. Tính đến hết ngày 15/8/2014, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt gần 178,35 tỷ USD, tăng 12,9% (tương ứng tăng hơn 20,37 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2013. Hàng năm, Việt Nam đã có trên 20 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 1 tỷ USD và đứng thứ hạng cao trên thế giới như gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, thủy sản, dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ, điện thoại di động, máy vi tính, sản phẩm điện tử, máy ảnh...
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lũy kế đến hết tháng 7/2014, cả nước có gần 17.000 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 240 tỷ USD (riêng 7 tháng đầu năm 2014, thu hút FDI đạt 9,53 tỷ USD), lượng vốn thực hiện khoảng 110 tỷ USD và trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam; trong đó có 16 nước và vùng lãnh thổ có vốn đăng ký (còn hiệu lực) đạt trên 1 tỷ USD (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Mỹ, Trung Quốc, Anh, Nga, Đức, Pháp, Australia…). Tất cả 63 tỉnh, TP của cả nước đều có vốn FDI, trong đó có 27 tỉnh, TP có số vốn đăng ký đạt trên 1 tỷ USD. Khu vực FDI hiện đã chiếm trên 18% GDP và 46,3% giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế, 66,2% kim ngạch xuất khẩu, giải quyết việc làm trực tiếp cho trên 1,7 triệu lao động.
Tổng nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA) từ năm 1993 đến nay đạt trên 78 tỷ USD vốn cam kết, trên 40 tỷ USD giải ngân. Việt Nam nằm trong top 10 nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới và tăng đều qua các năm, với trên 11 tỷ USD năm 2013.
Các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trên 750 dự án, với tổng vốn đăng ký đạt trên 16 tỷ USD, tại 23 nước và vùng lãnh thổ, cao nhất là Lào 3.672,5 triệu USD, tiếp đến là Campuchia 2.575,7 triệu USD, Peru 1.276,7 triệu USD...
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam cũng tăng liên tục và năm 2013 đạt trên 7,3 triệu lượt người, đem lại doanh thu ngoại tệ 7,5 tỷ USD.
Trong thời gian tới, Việt Nam chủ trương phát triển cả bề rộng và bề sâu các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt là với những nước đã thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược, Đối tác Toàn diện; thúc đẩy thực hiện các Hiệp định, thỏa thuận đã ký, tăng cường đan xen lợi ích; vận động chính trị, ngoại giao phục vụ các cuộc đàm phán về TPP, RCEP… Điều này không chỉ giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ đất nước…

Theo thống kê của VNDirect, trong 6 tháng đầu năm 2014, một nửa doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên cả 2 sàn TP.HCM và Hà Nội báo lãi (tổng số 64 doanh nghiệp). Gần 30% trong số này nỗ lực giải phóng hàng hóa, nhưng tổng giá trị tồn kho trên toàn sàn vẫn lên đến gần 720.000 tỷ đồng.

Theo TNĐO





Mảng tối của thị trường thể hiện ở những đơn vị có doanh thu và lợi nhuận thấp trong khi hàng tồn kho và nợ đọng vẫn tiếp tục dâng cao. Điển hình trong số này là Công ty Quốc Cường Gia Lai (QCG), giá trị hàng tồn kho tăng lên 4.000 tỷ đồng trong khi nợ của doanh nghiệp cũng lên đến gần 2.000 tỷ đồng, tăng 10% so với đầu năm. Doanh thu và lợi nhuận của QCG cũng rất thấp, 6 tháng qua chỉ lãi 3,5 tỷ đồng, sụt 30% so với cùng kỳ.

Cùng cảnh ngộ, Tổng Công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc (KBC) tiếp tục tồn kho hơn 7.500 tỷ đồng đến ngày 30-6-2014, nợ 3.650 tỷ đồng. Lợi nhận sau thuế của KBC hai quý vừa qua đạt 42 tỷ đồng, giảm 40% so với cùng kỳ.

Nhóm doanh nghiệp đang có hàng tồn kho lớn, lợi nhuận thấp hơn cùng kỳ chiếm xấp xỉ 30-50% trên tổng số 64 mã bất động sản trên cả hai sàn. Theo các chuyên gia cuộc đua tái cấu trúc của nhóm này sẽ ngày càng gay go.

Ông Phan Dũng Khánh, Giám đốc Tư vấn Đầu tư Công ty chứng khoán Maybank Kim Eng, nhận xét: "Ngoại trừ các đại gia địa ốc ăn ngon ngủ yên trên đầu bảng xếp hạng vì chỉ số tài chính tốt, các doanh nghiệp bất động sản quy mô vừa và nhỏ đang bị phân hóa mạnh mẽ. Nhóm này đang bước vào cuộc đua tái cấu trúc khốc liệt".

Ông Nguyễn Việt Đức, Giám đốc phân tích Quỹ đầu tư Sài Gòn - Hà Nội (SHF), đánh giá, nếu so với các ngành dầu khí, hàng tiêu dùng, dược... các doanh nghiệp bất động sản cùng với ngân hàng vẫn là hai nhóm có kết quả kinh doanh kém thuyết phục trong nửa đầu năm 2014.

Ông Đức cho rằng cuộc đua tái cấu trúc doanh nghiệp địa ốc sẽ phụ thuộc và gắn liền với hoạt động tái cấu trúc ngân hàng. Bởi lẽ hàng tồn kho và nợ xấu của bất động sản đều ít nhiều liên quan đến “sức khỏe” của các nhà băng.

"Tái cấu trúc là bài toán khó vì vậy doanh nghiệp bất động sản vẫn cần nhiều thời gian hơn để làm bài kiểm tra “sức khỏe”. Do đó doanh nghiệp địa ốc yếu kém không thể nhanh chóng cải thiện được tình hình kinh doanh trong năm nay", ông Đức nhận xét.


Sáng 30/08, ĐHĐCĐ bất thường của CTCP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú (HOSE: MPC) đã thống nhất ủy quyền cho HĐQT thực hiện mua cổ phiếu quỹ với giá từ 20,000 - 100,000 đồng/cp nhằm giải quyết quyền lợi cho cổ đông để hủy niêm yết.

Ban lãnh đạo MPC cho biết, công ty đã tiến hành mua được 368,880 cổ phiếu quỹ trong giai đoạn từ 07/04 đến 07/05 trong tổng số hơn 16 triệu cp đăng ký mua.


ĐHĐCĐ bất thường của MPC sáng 20/08 tại TPHCM.

"Về quy định, MPC đã đáp ứng được các điều kiện để hủy niêm yết, bởi 98.1% cổ phần có quyền biểu quyết đã cam kết không bán, chỉ còn lại 1.7% cổ phần có quyền biểu quyết là cổ đông nhỏ. Tuy nhiên công ty vẫn tiếp tục gom đợt này để thể hiện thiện chí với cổ đông" - Chủ tịch HĐQT Lê Văn Quang cho biết.

Hiện MPC có 1,322 cổ đông, vì thế sau khi hủy niêm yết MPC vẫn là công ty đại chúng, còn nếu muốn ra khỏi công ty đại chúng với số cổ đông dưới 100 thì công ty sẽ phải có chiến lược khác.

Ông Quang cũng nhấn mạnh, sau khi hủy niêm yết, MPC sẽ không niêm yết trở lại vì không mang lại nhiều thuận lợi cho công ty như huy động vốn và đặc biệt là các quy định không phù hợp.

Đồng thời, trước khi hủy niêm yết, MPC cũng tiến hành trả cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ 50% cho cổ đông vào khoảng tháng 9 tới.

Về nguyên nhân 6 tháng đầu năm tồn kho của MPC tăng cao, ông Quang lý giải do công ty dự trữ nguyên liệu để từ tháng 9 khi nhu cầu tăng mạnh bởi doanh nghiệp nhập hàng phục vụ cho các lễ hội cuối năm. Vì thế, trong tháng 8, 9 MPC sẽ xuất từ 80-100 triệu USD/tháng và đến cuối năm 2014 tồn kho sẽ giảm xuống còn 5,000 tấn.

Ngoài ra, Đại hội cũng thông qua tờ trình bổ sung thêm ngành kinh doanh nguyên vật liệu, phụ liệu chế biến hàng xuất khẩu.

Thanh Nụ


Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014

Ngoài việc đem lại sức bật mới về thương hiệu, quy mô và vốn điều lệ, cổ đông ngoại tại một số ngân hàng nội hiện nay đang làm gì với số cổ phần của mình?


Mục tiêu thực sự của họ là gì: đầu tư tài chính hay kinh doanh ngân hàng?

Một bức tranh không mấy sáng lạn về một số ngân hàng đang có cổ đông chiến lược nước ngoài, đó là sự chững lại và tụt dốc trong lợi nhuận, chiến lược kinh doanh. Thậm chí, có những ngân hàng buộc phải bán mình cho ngân hàng lớn để tiếp tục tồn tại.

Cổ đông chiến lược "hết phép"?

Eximbank là một điển hình. Có cổ đông chiến lược là ngân hàng Sumitomo Mitsui (SMBC) của Nhật, với tỷ lệ sở hữu là 15,07% cổ phần, nhưng kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm của Eximbank cho thấy sự bất ổn thể hiện qua những con số.

Cụ thể, 6 tháng đầu năm, tổng tài sản của Eximbank giảm tới hơn 37.000 tỷ đồng (giảm 22,2% so với cuối 2013) và chỉ còn 132.064 tỷ đồng; tín dụng giảm 3,7%, tiền gửi của khách hàng giảm 3%, lợi nhuận trước thuế 6 tháng giảm hơn 12% so với cùng kỳ và chỉ đạt 664 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu đã tăng mạnh từ 1,98% cuối 2013 lên 2,94%.

Tính đến năm 2014, SMBC đã hợp tác với Eximbank được 6 năm. Sự xuất hiện của SMBC đã giúp Eximbank tăng vốn điều lệ từ 2.800 tỷ đồng và tổng tài sản 33.000 tỷ đồng vào năm 2007, lên 12.355 tỷ đồng vốn điều lệ và tổng tài sản hơn 170.000 tỷ đồng (đến cuối năm 2012).

Với sự hỗ trợ của SMBC, trong 6 năm qua, Eximbank đã liên tục phát triển và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính mới cho thị trường, vươn lên vị thế thứ 2 trong các NHTMCP hàng đầu tại Việt Nam (sau MB).

Hay như tại Ngân hàng TMCP Phát triển Mekong (MDB) cũng vậy. Sự xuất hiện của cổ đông chiến lược Fullerton Financials Holding Pte. Ltd (FFH) từ năm 2010 đã giúp lợi nhuận của MDB tăng hơn 50% nhưng vẫn không thấm vào đâu so với tốc độ tăng vốn. Tốc độ tăng vốn điều lệ của MDB từ mức 24,7 tỷ đồng vào năm 2005 lên đến 3.750 tỷ đồng hiện nay, tức là tăng đến 151 lần sau 10 năm, cũng có sự đóng góp không nhỏ của FFH. Tăng trưởng là thế, nhưng giờ đây, số phận của MDB là sự biến mất của thương hiệu sau khi sáp nhập với MaritimeBank.

Hay như tại Techcombank với sự xuất hiện cổ đông chiến lược ngoại là HSBC, bắt đầu nắm cổ phần từ cuối năm 2005 với tỷ lệ sở hữu 20% vốn ngân hàng. Trong nhiều năm qua, đặc biệt là kể từ khi có sự tham gia của HSBC, Techcombank đạt được nhiều kết quả ấn tượng.

Tuy nhiên, kết quả này không duy trì được và bắt đầu giảm sút mạnh từ năm 2012. Đến ĐHĐCĐ thường niên 2014 vừa qua, HSBC đã tuyên bố rút người khỏi HĐQT và không cử thêm nhân sự tham gia do thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật giữa Techcombank và HSBC ký lần đầu vào năm 2005 sẽ kết thúc vào tháng 6/2014.

Mặc dù đã có sự phục hồi nhẹ trong kết quả hoạt động kinh doanh của Techcombank, nhưng so với những năm trước, Techcombank vẫn đang còn nhiều việc phải làm.

Câu hỏi đặt ra là, trong những trường hợp này, vai trò của những cổ đông chiến lược nước ngoài ở đâu? Sự sụt giảm này có phải là họ không còn mặn mà hợp tác với các ngân hàng này hay là đã "hết phép" để có thể giải nguy trong những tình huống này?

Giới hạn của cổ phần

Theo giới chuyên gia, sở dĩ vẫn có những kết quả buồn tại các ngân hàng có cổ đông chiến lược nước ngoài là bởi sự giới hạn của tỷ lệ sở hữu. Mặc dù được sở hữu đến 20%, nhưng tỷ lệ này cũng không thấm tháp gì so với 80% còn lại của các cổ đông trong nước. Sự bắt tay và chi phối của cổ đông trong nước đã giới hạn năng lực của các cổ đông nước ngoài.

Mặc dù, theo Nghị định 01 mới đây của Chính phủ, tỷ lệ sở hữu của cổ đông chiến lược nước ngoài được nâng lên 30%, thậm chí, đối với một vài trường hợp, có thể nâng lên 49%, nhưng giới chuyên gia vẫn cho rằng vẫn chưa đủ để họ có thể triển khai những kinh nghiệm, năng lực của mình. Đấy chính là lý do vì sao mà họ không đủ khả năng để hạn chế những tiêu cực vẫn đang diễn ra tại những ngân hàng này.

"Với ngân hàng đang hoạt động tốt, trung bình thì tỷ lệ 30% không đủ để họ có thể thực hiện đầy đủ năng lực nhằm thay đổi ngân hàng. Nói đúng hơn, với tỷ lệ này, đối tác nước ngoài bỏ tiền ra với mục đích đầu tư tài chính chứ không phải để đầu tư dài hạn, đầu tư hoạt động kinh doanh ngân hàng", vị chuyên gia ngân hàng bình luận.

"HSBC là một ví dụ. Mặc dù đầu tư vào Techcombank, HSBC cũng bỏ nhiều công sức nhưng không thấm tháp gì so với những gì mà họ nhận lại được. Bằng chứng là sự lớn mạnh của HSBC Việt Nam trong những năm qua. Mỗi năm, HSBC Việt Nam lại cho thấy sự trưởng thành và phát triển của mình, mặc cho các ngân hàng nội đang loay hoay với khó khăn. Mà điển hình là sự tụt dốc của Techcombank trong mấy năm qua", vị này phân tích.

Hay như ANZ với Sacombank cũng vậy. Đầu tư vào Sacombank với thời gian khá dài, nhưng mục đích của ANZ cũng giống như HSBC, đó là học hỏi kinh nghiệm khi được phép mở ngân hàng con tại Việt Nam. Sau khi được cấp phép lập ngân hàng con 100% vốn ngoại tại Việt Nam, ANZ đã từng bước thoái vốn tại Sacombank.

Với những gì đã và đang diễn ra cho thấy, mặc dù rất nhiều cổ đông nước ngoài đang nỗ lực trong các ngân hàng nội, nhưng cũng chỉ là đầu tư tài chính là chính và kỳ vọng được nới lên tỷ lệ cao hơn trong thời gian tới. Và một khi kỳ vọng đó không được như mong muốn, họ sẽ tìm đường thoái vốn.

Minh Huệ


Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

TT - Đó là kết quả giám sát melamine trong sản phẩm kẹo sữa mềm được Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) thông báo ngày 23-8.

Qua kiểm nghiệm 18 mẫu kẹo sản xuất trong nước và nhập khẩu ở Hà Nội, TP.HCM chỉ một mẫu có melamine ở mức 0,093 mg/kg (thấp hơn mức giới hạn tối đa cho phép của Bộ Y tế là 2,5 mg/kg).

L.TH.H.


Top 10 các doanh nghiệp lợi nhuận cao nhất có lợi nhuận sau thế đạt trên 9 nghìn tỷ đồng, chiếm 60% lợi nhuận đạt được của trên 500 doanh nghiệp có lãi.


Theo thống kê kết quả kinh doanh quý 2 trên 600 doanh nghiệp niêm yết trên sàn (trừ các ngân hàng, tổ chức tín dụng và công ty chứng khoán), có trên 500 doanh nghiệp báo lãi. Lợi nhuận phân hóa khá mạnh ở nhóm các doanh nghiệp báo lãi quý 2.

Tính riêng Top 10 các doanh nghiệp lợi nhuận cao nhất, bao gồm: GAS , VNM , HPG , VIC , PVD , PVS , FPT , DPM , HAG và REE , lợi nhuận sau thế đạt trên 9 nghìn tỷ đồng, chiếm 60% lợi nhuận đạt được của trên 500 doanh nghiệp có lãi. Tỷ trọng còn lớn hơn, đạt 65,4% lợi nhuận của trên 600 doanh nghiệp được thống kê.

Cụ thể, tổng lợi nhuận quý 2 của 500 doanh nghiệp báo lãi đạt trên 15 nghìn tỷ đồng, trong đó Top 10 doanh nghiệp lãi cao nhất đạt 9 nghìn tỷ đồng.

Quán quân lợi nhuận quý 2 năm nay tiếp tục thuộc về GAS, quán quân về lợi nhuận trong nhiều


năm qua. Báo lãi trên 3.200 tỷ đồng, riêng doanh nghiệp này đã chiếm 21,3% lợi nhuận của 500 doanh nghiệp.

Nhóm dầu khí chiếm ưu thế

Không bất ngờ khi có tới 4 doanh nghiệp thuộc Top 10 thuộc Tập đoàn dầu khí Việt Nam. GAS, PVD, PVS, DPM đều là các doanh nghiệp trực thuộc PVN với tỷ lệ sở hữu của tập đoàn từ 30% trở lên. Các doanh nghiệp còn lại như VNM, HPG, VIC, FPT, HAG và REE đều ít nhiều có những lợi thế so với các doanh nghiệp cùng ngành.

Không nằm trong Top 10 (đứng thứ 11 - lợi nhuận thua REE chỉ 3 tỷ đồng), riêng MPC là trường hợp tương đối đặc biệt khi kết quả kinh doanh của công ty các năm trước không có nhiều nổi trội. 6 tháng đầu năm 2014, MPC bứt phá mạnh mẽ và nhanh chóng vượt 10% kế hoạch cả năm. Với kết quả lạc quan đó, MPC dự kiến sẽ chia cổ tức cho cổ đông 6 tháng đầu năm với tỷ lệ khủng 50%, đồng thời nới biên độ giá cổ phiếu mua lại lên 100.000 đồng/cổ phiếu - dọn đường cho kế hoạch hủy niêm yết sắp tới.

Biến động mạnh, nhưng vị trí "vững chãi"

So sánh lợi nhuận quý 2/2014 với cùng kỳ 2013 - có thể thấy những biến động tương đối mạnh. Thậm chí có doanh nghiệp VNM, VIC, DPM và REE có lợi nhuận giảm sâu nhưng vị trí trong Top 10 vẫn tương đối vững chãi.

So với Top 10 quý 2/2013, danh sách quý 2 năm nay thiếu bóng dáng của PPC, thay vào đó là PVS. Không bất ngờ khi PPC đã có một kỳ kinh doanh không mấy sáng sủa khi phải gánh chịu khoản chênh lệch tỷ giá khổng lồ hàng trăm tỷ đồng. Ngược lại, PVS đã tăng trưởng lợi nhuận mạnh mẽ quý 2 và 6 tháng vừa qua.

Lợi nhuận chưa phân phối hàng nghìn tỷ đồng

Top 10 doanh nghiệp nói trên đều là những doanh nghiệp lớn với vốn điều lệ hàng nghìn đến hàng chục nghìn tỷ đồng. Là những doanh nghiệp kinh doanh tốt, lợi nhuận chưa phân phối của các doanh nghiệp tính đến cuối quý 2 đều đạt hàng nghìn tỷ đồng. Kỷ lục phải kể đến VIC với khoản lợi nhuận này trên 9.300 tỷ đồng, tương đương vốn điều lệ tại cùng thời điểm. PVD cũng là doanh nghiệp có khoản lợi nhuận khủng trên 5.600 tỷ đồng, vượt 40% vốn điều lệ của công ty.

Sau đây là một số chỉ tiêu tổng hợp của 10 doanh nghiệp niêm yết có lợi nhuận lớn nhất quý 2/2014. (Đơn vị: Tỷ đồng. Các doanh nghiệp thuộc họ Dầu khí được đánh dấu)


Hoàng Nguyên

Theo Infonet


(NDH) Phiên giao dịch ngày 22/8, chỉ số VN-Index đã bứt phá mạnh và vượt mốc 620 điểm. Việc chỉ số VN-Index tăng mạnh đã đẩy vốn hóa trên sàn HOSE lên mức 1.103.832 tỷ đồng. Tổng vốn hóa trên cả 2 sàn đạt 1.236.673 tỷ đồng, tăng 13.012 tỷ đồng so với phiên hôm qua.

Phiên hôm nay, việc nhiều cổ phiếu bluechips trên sàn HOSE bứt phá mạnh đã giúp chỉ số VN-Index tăng 7,2 điểm lên mức 620,14 điểm, mức điểm này chỉ còn kém mức đỉnh 5 năm của ngày 22/10/2009 là gần 4 điểm (624,1 điểm). Trong khi đó, chỉ số HNX-Index phiên hôm nay cũng duy trì được mức tăng 0,33 điểm lên 83,34 điểm.

Bên cạnh đó, thanh khoản thị trường phiên hôm nay tiếp tục duy trì ở mức cao, đạt hơn 3.552 tỷ đồng, tương ứng khối lượng giao dịch đạt trên 223,4 triệu cổ phiếu.

Với việc thị trường có được mức tăng khá tích cực đã giúp vốn hóa thị trường tăng 13.012 tỷ đồng so với phiên hôm qua và đạt hơn 1.236.673 tỷ đồng. Trong đó, vốn hóa trên sàn HOSE đạt 1.103.832 tỷ đồng, tức tăng 12.513 tỷ đồng so với phiên giao dịch hôm qua, còn vốn hóa trên sàn HNX cũng tăng khoảng 499 tỷ đồng và đạt 132.841 tỷ đồng.

Phiên hôm nay, việc chỉ số VN-Index bứt phá mạnh là nhờ một phần khá lớn vào đà tăng của mã GAS. Khép phiên giao dịch, GAS tăng 4.000 đồng lên 122.000 đồng/CP. Vốn hóa phiên hôm nay của GAS đạt 231.190 tỷ đồng và cũng là mã có vốn hóa lớn nhất thị trường (11 tỷ USD).

Trong khi đó, mã có vốn hóa lớn thứ 2 trên sàn HOSE là VNM, đạt hơn 113.013 tỷ đồng, mức vốn hóa không thay đổi so với phiên hôm qua do mã VNM đứng giá tham chiếu trong phiên giao dịch hôm nay. Tiếp theo, mã VIC vốn hóa 73.441 tỷ đồng, tăng khoảng 1.394 tỷ đồng so với phiên hôm qua.


Trên sàn Hà Nội, PVS là mã có mức vốn hóa cao nhất sàn HNX, đạt 16.706 tỷ đồng, tức tăng khoảng 89,34 tỷ đồng so với phiên hôm qua. Trong khi đó, ACB vẫn giữ mức vốn hóa là 13.920 tỷ đồng do phiên hôm nay mã này đứng ở mức giá tham chiếu.

Tương tự, do hai mã SQC và SHB cũng đứng ở mức tham chiếu trong phiên giao dịch hôm nay nên vốn hóa của 2 mã này vẫn đạt 8.583 tỷ đồng và 7.886 tỷ đồng.

Bình Minh - NDH


Sáng nay (23/8), giá cà phê nhân xô các tỉnh Tây Nguyên đã có phiên tăng thứ 3 với mức tăng 100.000 đồng/tấn lên 38,8-39,3 triệu đồng/tấn.


Giá cà phê Robusta giao tại cảng TPHCM giá FOB hôm nay tăng 9 USD từ 1.948 USD/tấn hôm trước lên 1.957 USD/tấn.

Giá cà phê trên 2 thị trường Liffe và ICE hôm nay (20/8) diễn biến trái chiều.

Thị trường London: Trên sàn Liffe tại London, nối tiếp phiên hôm qua, giá cà phê Robusta các kỳ hạn hôm nay tăng 4-13 USD/tấn. Cụ thể kỳ hạn giao tháng 9 giá tăng 4 USD/tấn, tương đương +0,2%, lên 1.986 USD/tấn. Kỳ hạn giao tháng 11 giá tăng 9 USD/tấn, tương đương +0,45%, lên 1.997 USD/tấn. Kỳ hạn giao tháng 1/2015 giá tăng 13 USD/tấn, tương đương +0,65%, lên 2.005 USD/tấn.

Thị trường New York
: Trái ngược với diễn biến trên Liffe, trên sàn ICE New York, giá cà phê Arabica các kỳ hạn giảm 1,5-2,55 cent/pound. Cụ thể, hạn giao tháng 9 giá giảm 1,75 cent/pound (-0,96%) xuống 182 cent/pound, kỳ hạn giao tháng 12 giá giảm 2,55 cent/pound (-1,36%) xuống 187,05 cent/pound, và giá kỳ hạn tháng 3/2015 giá giảm 1,5 cent/pound (-0,78%) xuống 191,85 cent/pound.

Viện Cà phê Quốc gia Costa Rica dự báo sản lượng vụ mới sẽ đạt 1,56 triệu bao, tăng 4,5% so với niên vụ trước. Dự báo này khá khiêm tốn trong bối cảnh nhiều dự báo khác cho rằng sản lượng cà phê niên vụ mới tại Mexico và khối Trung Mỹ sẽ tăng 10%.

Liên đoàn Cà phê Colombia cho biết, với dự báo El Nino sẽ diễn ra vào cuối năm nay và đầu năm tới, thời tiết sẽ khô hạn hơn đối với người trồng cà phê, tuy nhiên, cũng cho rằng thời tiết khô hạn tác động ít hơn so với những cơn mưa quá mức. Vụ cà phê Colombia đã hồi phục trong những năm qua từ mức thấp kỷ lục 8 triệu bao lên mức mục tiệu 12 triệu bao trong niên vụ tới tháng 10/2014-tháng 9/2015.

Nhà phân tích cà phê Brazil Safras e Mercado đã tính toàn rằng với mức dự đoán sản lượng cà phê niên vụ này đạt 48,9 triệu bao, thì tính đến cuối tuần trước đã có 38% sản lượng vụ mới đã được bán với tỷ lệ cà phê Arabica-Robusta đạt 67,3-32,7. Như vậy, với dự đoán sản lượng cà phê Robusta đạt 17,3 triệu bao, thì mới chỉ có 35,5% loại cà phê này được bán ra tính đến cuối tuần trước.

Theo báo cáo của Hiệp hội Công nghiệp và Xuất khẩu Cà phê Indonesia, do những vấn đề về thời tiết và diễn biến thị trường nội địa, nên Hiệp hội đã hạ 14,29% dự báo sản lượng cà phê xuống 10 triệu bao. Hiệp hội cũng hạ dự báo xuất khẩu cà phê năm nay của Indonesia xuống 7,5 triệu bao.

Trữ lượng lưu kho cà phê Arabica chế biến ướt có chứng chỉ trên sàn New York giảm 2.750 bao xuống 2.405.996 bao, trong khi số báo chờ đánh giá và phân hạng tăng 640 bao lên 11.613 bao.

Trữ lượng lưu kho cà phê Robusta trên sàn London tăng 33.333 bao (+2,44%) trong 2 tuần qua tính đến 18/8 lên 1.401.667 bao.

Dưới sự bảo trợ của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Báo Lao động và Xã hội vừa phối hợp với Công ty cổ phần kết nối nhân tài (Talentnet) chính thức phát động và giới thiệu giải thưởng Vietnam HR Awards 2014.


Thứ trưởng Nguyễn Trọng Đàm tặng hoa cho Hội đồng thẩm định giải thưởng Vietnam HR Awards 2014

Vietnam HR Awards là giải thưởng đầu tiên về chiến lược phát triển nhân sự tại Việt Nam nhằm vinh danh các doanh nghiệp có chính sách quản trị nhân sự xuất sắc, đề cao những chiến lược nhân sự hiệu quả cũng như tạo một sân chơi hữu ích để các doanh nghiệp cùng học hỏi và chia sẻ các chính sách nhân sự hay, thiết thực đóng góp cho sự phát triển cho doanh nghiệp và người lao động.

Phát biểu tại Lễ phát động, Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Nguyễn Trọng Đàm nhấn mạnh, để có thể từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những vấn đề chiến lược được Việt Nam đặc biệt quan tâm. Nếu doanh nghiệp có nguồn nhân lực chất lượng cao lại xây dựng được hệ thống chính sách quản trị tốt, quan tâm đến đời sống của nhân viên và người lao động, lấy người lao động làm trung tâm, sẽ khơi dậy, phát huy hết năng lực làm việc của họ và tạo động lực cho họ cống hiến hết sức mình vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển ngày càng toàn diện, bền vững.

Ban tổ chức cho biết, để đảm bảo tính chuyên nghiệp, giải thưởng sử dụng phương pháp chuyên môn quốc tế từ tổ chức SHRI và được bổ sung một số yếu tố đánh giá phù hợp với thị trường Việt Nam nhằm đảm bảo tính minh bạch về quy trình chấm giải, sự chuyên nghiệp về hạng mục giải thưởng, tiêu chí chấm giải. Ngoài ra, Hội đồng thẩm định giải đều là những chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước tập trung vào việc thẩm định các chính sách nhân sự của các doanh nghiệp.

Chia sẻ về yêu cầu cần phải có một cơ chế đánh giá, ông Nguyễn Thành Phong, Tổng biên tập Báo Lao động và Xã hội, Trưởng Ban tổ chức, trong khi các nước trong khu vực đều vinh danh và xem chiến lược nhân sự là một phần không thể thiếu cho hoạt động kinh doanh thì Việt Nam vẫn chưa có một ghi nhận nào vinh danh những doanh nghiệp có chiến lược nhân sự tốt. Vietnam HR Awards là một bước giúp các doanh nghiệp xác lập các tiêu chí chung, chuẩn mực đánh giá và vinh danh các doanh nghiệp làm tốt chính sách nhân sự sau này. Đồng thời cũng là cơ hội tốt để doanh nghiệp cùng nhìn lại chiến lược quản trị nguồn nhân lực, sự đầu tư vào người lao động, môi trường làm việc để tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh doanh.

Ban tổ chức sẽ nhận hồ sơ đến hết ngày 19/9/2014, công bố kết quả vào đầu tháng 12/2014 và vinh doanh 15 doanh nghiệp xuất sắc nhất ở 5 hạng mục gồm: Hoạch định và tìm kiếm nguồn nhân lực xuất sắc; Quản lý hiệu quả công việc xuất sắc; Chính sách đào tạo và phát triển nguồn lực xuất sắc; Môi trường làm việc tốt; và Chính sách lương thưởng phúc lợi hiệu quả.

Xuân Thành


VNCB đã điều chỉnh giảm 0,5 điểm % một loạt lãi suất huy động tiền gửi VND, quay trở lại sát với mức được áp dụng phổ biến tại các ngân hàng.

Trả lời phỏng vấn báo Xây dựng mới đây, Phó Tổng giám đốc phụ trách ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam (VNCB) Đàm Minh Đức cho biết, biến động vừa qua thực sự là khó khăn lớn với VNCB, tuy nhiên đến nay ngân hàng đã qua được thời điểm khó khăn nhất để từng bước củng cố hệ thống, ổn định tổ chức hoạt động, tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển lâu dài của mình với sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước.

Hôm qua, VNCB vừa thông báo điều chỉnh lãi suất huy động tiền gửi VND áp dụng từ ngày 21/8. Theo đó, lãi suất huy động tiền gửi bằng VND của VNCB đã điều chỉnh giảm mạnh nhất tới 0,5 điểm %/năm so với biểu lãi suất trước đó, gần với mức lãi suất áp dụng tại các ngân hàng thương mại khác.

VNCB đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động các kỳ hạn trên 12 tháng từ mức 9,1%/năm xuống còn 8,6%/năm. Lãi suất kỳ hạn 12 tháng giảm còn 8,4%/năm, từ mức 8,6%/năm. Lãi suất từ 9 tháng giảm từ 8,3% xuống 7,8%/năm. Lãi suất kỳ hạn 6 tháng giảm từ 8,2% xuống 7,7%/năm. Các kỳ hạn từ 1 đến 5 tháng được áp dụng lãi suất 6%/năm.

Trong thời gian tới, Phó Tổng giám đốc VNCB cho biết sẽ vẫn tiếp tục theo đuổi chiến lược trở thành ngân hàng thương mại đa năng, tập trung và có thế mạnh trong lĩnh vực xây dựng, nhà ở. Với sự hợp tác của Vietcombank, VNCB sẽ nhận được chia sẻ về khách hàng, kinh nghiệm quản trị rủi ro và quản lý hệ thống.

Theo ông Đức, những chương trình mà VNCB đã cam kết với khách hàng sẽ vẫn được tiếp tục đối với những hợp đồng đã ký kết. VNCB cũng đang trong quá trình xem xét hồ sơ đối với nhiều dự án, khách hàng thuộc đối tượng chương trình tín dụng 50.000 tỷ đồng.

Ngày 29/7 vừa qua, Cơ quan cảnh sát điều tra đã bắt tạm giam 3 lãnh đạo Tập đoàn Thiên Thanh, đồng thời cũng nguyên là lãnh đạo của VNCB. NHNN đã phải ra thông cáo chính thức về sự việc này, đảm bảo cho hoạt động của VNCB.

Sau đó, ngày 1/8, Vietcombank và VNCB đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược, toàn diện. Trên thỏa thuận, Vietcombank sẽ hỗ trợ nguồn vốn cho VNCB nhằm bảo đảm chi trả kịp thời tiền gửi hợp pháp của người gửi tiền. Hai bên thống nhất hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện các giao dịch về vốn và kinh doanh tiền tệ khi có nhu cầu và trên cơ sở các điều khoản thỏa thuận trong các hợp đồng giao dịch cụ thể.

Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014

Thường trực Ban vận động ngày "Vì người nghèo” tỉnh Vĩnh Long vừa ký hợp đồng với ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam chi nhánh tỉnh Vĩnh Long, theo đó quỹ "Vì người nghèo” tỉnh Vĩnh Long ủy thác sang ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Vĩnh Long 2,4 tỷ đồng trong 24 tháng với lãi suất bằng 0 (không).


Từ nguồn vốn này ngân hàng chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Vĩnh Long sẽ tạo điều kiện cho các đoàn thể: Hội Nông Dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh và Đoàn Thanh niên của 12 xã điểm xây dựng nông thôn mới, hướng dẫn đoàn viên, hội viên và người dân là hộ nghèo lập dự án vay vốn sản xuất để thoát nghèo bền vững. Tổng số tiền quỹ "Vì người nghèo” của tỉnh đã ủy thác sang ngân hàng chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Vĩnh Long là 3,4 tỷ đồng hỗ trợ cho hộ nghèo vay phục vụ sản xuất để thoát nghèo ở 15 xã điểm xây dựng nông thôn mới của tỉnh.
Nguyễn Văn Sang